(056) 3815348

Kỷ niệm làm báo: Chuyến công tác về miền biên viễn

Thứ hai, 28/08/2017, 14:51 GMT+7

Sau hơn 3 năm về công tác ở Báo Nghĩa Bình (nay là Báo Bình Định), năm 1986 tôi được lệnh tháp tùng đoàn công tác của tỉnh đi thăm và ủng hộ lương thực, thực phẩm cho tỉnh Cao Bằng vừa trải qua một trận lũ lụt lớn, gây thiệt hại nặng nề.
Trưởng đoàn là Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Nguyễn Văn Bút. Ông là người Quảng Ngãi vào Quy Nhơn công tác, ở tập thể, ăn cùng tôi ở nhà ăn Liên cơ (liên cơ quan) nên khá gần gũi, thân tình. Cùng đi có đại diện lãnh đạo một số ban, ngành, đoàn thể của tỉnh.
Trước chuyến đi này, nơi xa nhất phía Bắc mà tôi đến được là Quảng Trị. Đó là năm 1980 khi lớp sinh viên Đại học tổng hợp Huế chúng tôi được huy động ra xây dựng công trình đại thủy nông Nam Thạch Hãn. Bởi vậy chuyến công tác này đối với tôi là điều vô cùng mới mẻ, hứa hẹn nhiều khám phá. Và tôi đã thao thức mấy đêm liền chờ ngày xuất phát. 
Ân tượng đầu tiên đến với tôi là khi xe vượt qua cầu Hiền Lương. Cầu Hiền Lương nối liền quốc lộ 1A, bắc qua sông Bến Hải tại km 735 thuộc thôn Hiền Lương, xã Vĩnh Thành, huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị. Năm 1954, sau khi Pháp thất bại tại Điện Biên Phủ, Hiệp định Giơnevơ được ký kết. Theo Hiệp định này, Việt Nam tạm thời chia làm hai miền, lấy vĩ tuyến 17 với sông Bến Hải làm giới tuyến tạm thời trong 2 năm 1954 - 1956, sau đó sẽ tiến hành tổng tuyển cử tự do, thống nhất đất nước. Cũng theo đó, chính giữa cầu Hiền Lương là ranh giới tạm thời giữa 2 miền Nam - Bắc. 
Đáng tiếc do sự bội ước của chính quyền Miền Nam, Hiệp định Giơnevơ đã không được tiếp tục thực hiện. Từ đây, cây cầu Hiền Lương đã trở thành chứng tích lịch sử trong 20 năm chia cắt hai miền. Cây cầu trở thành một biểu tượng to lớn cho khát vọng thống nhất non sông, sum họp, đoàn tụ của biết bao gia đình và toàn dân tộc. Năm 1967, cầu Hiền Lương bị ném bom sập. Đến năm 2001, cầu được phục chế lại nguyên bản theo thiết kế của chiếc cầu cũ, dài gần 183 m, gồm 7 nhịp, mặt lát gỗ lim có đánh số thứ tự từng tấm ván.
Tôi cũng như bất cứ ai trong hành trình xuôi ngược Bắc - Nam đều muốn tận mắt nhìn thấy “nhân chứng lịch sử” này, khi hơn hai mươi năm mang trong mình nỗi đau chia cắt của đất nước, từng chứng kiến một quá khứ bi thương mà hào hùng, oanh liệt trong lịch sử dân tộc Việt Nam.
Xe chúng tôi tiếp tục xuôi ra Bắc qua các tỉnh Quảng Bình (hồi đó còn thuộc tỉnh Bình - Trị - Thiên), Hà Tĩnh, Nghệ An... Đã 11 năm sau ngày hòa bình, thống nhất mà dấu vết chiến tranh còn hằn lại với những hố bom rải rác trên những cánh đồng hai bên đường. Quốc lộ 1A, con đường độc nhất nối liền Nam - Bắc hồi ấy còn xấu lắm, đường hẹp, nhiều đoạn gồ ghề, ổ trâu, ổ gà khiến xe chạy như rùa bò; phải qua 2-3 chuyến phà, chờ đợi mỏi mệt.
Đến Hà Nội đoàn nghỉ lại Nhà khách Chính phủ (37 Hùng Vương). Từ nhà khách có thể nhìn toàn cảnh Quảng trường Ba Đình. Nếu nói Hà Nội là trái tim của cả nước thì Quảng trường Ba Đình là trái tim của Hà Nội. Đây là nơi Bác Hồ đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa vào ngày 2.9.1945. 
Quảng trường có 168 ô cỏ xanh tươi, ở giữa là cột cờ cao 30m. Vào những ngày lễ lớn của dân tộc, nơi đây thường diễn ra các cuộc diễu binh, diễu hành, và cũng là một địa điểm tham quan không thể bỏ qua của du khách và người dân Việt Nam khi đến với Thủ đô Hà Nội. 
 
 
Tác giả tại Quảng trường Ba Đình.
 
Tranh thủ thời gian ít ỏi, tôi mượn xe đạp đi lòng vòng và lạc bước đến hồ Hoàn Kiếm. Hồ Hoàn Kiếm còn gọi là Hồ Gươm, xanh biếc một màu, là thắng cảnh nổi tiếng và niềm tự hào của người dân Thủ đô. Mặt hồ như tấm gương soi bóng, la đà những cây cổ thụ, những rặng liễu rũ thướt tha, những mái đền cổ kính, những mái tháp rêu phong. Tên gọi Hồ Hoàn Kiếm xuất hiện vào đầu thế kỷ 15 gắn với truyền thuyết vua Lê Thái Tổ trả gươm báu cho Rùa thần, thể hiện khát vọng hòa bình của người xưa. Tên hồ cũng được đặt cho một quận trung tâm Hà Nội.
Nằm trong lòng Hồ Hoàn Kiếm, Đền Ngọc Sơn gồm các công trình nổi bật: khu đền thờ, Trấn Ba Đình và Tháp Bút - Đài Nghiên. Bóng của Tháp Bút ngả xuống chấm mực trong Đài Nghiên, tạo thành một biểu tượng đẹp cho nền học vấn của dân tộc. Từ đó đến nay, mỗi lần có dịp ra Hà Nội tôi đều dành thời gian đến Hồ Hoàn Kiếm, đi dạo một vòng hoặc ngồi ghế đá ven hồ, lặng lẽ ngắm nhìn cảnh vật xung quanh. Đó như một thói quen khó bỏ.
Rồi không hiểu thế nào tôi đi lạc vào khu phố cổ. Những con đường nhỏ hẹp, những cái tên luôn có chữ “Hàng” đứng trước như muốn đánh đố một người xa lạ như tôi: Hàng Đào, Hàng Đậu, Hàng Gai, Hàng Thùng... Được biết, khu phố cổ Hà Nội thuộc địa bàn quận Hoàn Kiếm, tổng diện tích khoảng 100 ha, có 76 tuyến phố. Mặc dù các phố cổ của Hà Nội còn nằm cả bên ngoài khu vực này, nhưng do đây là khu vực tập trung phố cổ nhiều nhất và còn giữ được những đặc trưng nên gọi là khu phố cổ.
Xa xưa, đặc trưng nổi tiếng nhất của khu phố cổ là các phố nghề. Thợ thủ công từ các làng nghề quanh Thăng Long xưa tụ tập về đây, tập trung theo từng khu vực chuyên làm nghề của mình. Cùng với thời gian, một số phố tuy không giữ được nghề truyền thống, nhưng cũng tập trung chuyên bán một loại hàng hóa như phố Hàng Quạt bán đồ thờ, Hàng Buồm bán bánh kẹo, phố Mã Mây chuyên dịch vụ du lịch...
Nghe nói kiến trúc của khu phố cổ trước đây là các ngôi nhà nhỏ bé với mái tranh hay mái ngói, thường có sân chung, lô nhô nối tiếp nhau từ dãy phố này đến dãy phố khác. Thời kỳ Thực dân Pháp đô hộ Việt Nam, quy hoạch Hà Nội bắt đầu thay đổi. Đặc biệt là khu phố cổ, các đường phố được nắn lại, có hệ thống thoát nước, có hè phố, đường được trải nhựa và có hệ thống chiếu sáng. Nhà cửa hai bên đường phố được xây bằng gạch, lợp ngói. Bên cạnh những ngôi nhà cổ truyền thống đã xuất hiện những ngôi nhà ống có mặt tiền được xây dựng, trang trí theo kiểu châu Âu.  
Năm 1986, thực hiện đường lối chính sách của Nhà nước phát triển kinh tế thị trường, người dân mở mang cửa hàng, cửa hiệu, buôn bán tấp nập, khu phố cổ dần được phục hồi phát triển và sầm uất hơn trước. Tuy nhiên, dù có thay đổi về dịch vụ ngành nghề và hàng hoá, nhưng nhiều con phố vẫn giữ trong mình những giá trị lịch sử văn hóa truyền thống; vẫn còn giữ lại một số công trình, không gian kiến trúc, nhất là những di tích có giá trị lịch sử liên quan tới phố cổ. 
Tôi còn nhớ trong tập “Việt Nam thi văn hợp tuyển” của Dương Quảng Hàm có ghi lại bài ca dao về 36 phố ở Hà Nội như sau:
Rủ nhau chơi khắp Long thành
Ba mươi sáu phố rành rành chẳng sai:
Hàng Bồ, hàng Bạc, hàng Gai,
Hàng Buồm, hàng Thiếc, hàng Bài, hàng Khay,
Mã Vĩ, hàng Điếu, hàng Giầy,
Hàng Lờ, hàng Cót, hàng Mây, hàng Đàn,
Phố Mới, Phúc Kiến, hàng Ngang,
Hàng Mã, hàng Mắm, hàng Than, hàng Đồng…,
Nghỉ ngơi một đêm, sáng hôm sau Đoàn khởi hành lên Cao Bằng. Càng lên cao con đường càng vắng vẻ, ngoằn nghèo khó đi. Trên đường có rất ít ô tô, chủ yếu là người đi bộ và xe đạp. Thỉnh thoảng thấy một tốp phụ nữ người dân tộc thiểu số quần áo sặc sỡ; ngực, tay đeo đầy vòng bạc, ngước nhìn tò mò.
Cao Bằng là tỉnh nằm ở phía Đông Bắc Việt Nam. Hai mặt Bắc và Đông Bắc giáp với tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc), với đường biên giới dài hơn 300 km. Thủ phủ Cao Bằng nằm trong một thung lũng hẹp, bao quanh là những đồi núi trập trùng. Thị xã những ngày này chìm trong những đợt sương mù bất chợt. Dấu vết chiến tranh vẫn còn hiện nguyên trong từng ngôi nhà, góc phố. 
 
 
 
 
Tác giả trước trụ sở UBND tỉnh Cao Bằng.
 
Năm 1979, trong khi quân chủ lực của ta đang giúp nước bạn Campuchia thoát khỏi nạn diệt chủng của bè lũ Polpot thì quân xâm lược Trung Quốc lại ồ ạt tràn qua biên giới phía Bắc Việt Nam để “dạy cho Việt Nam một bài học” như lời Đặng Tiểu Bình đã nói. Quân xâm lược Trung Quốc không chỉ cướp bóc, đập phá nhà cửa làng mạc mà còn giết hại vô số dân thường.
Ở hướng Cao Bằng, hai quân đoàn tăng cường của Trung Quốc hình thành hai cánh quân lớn từ phía tây bắc theo đường Thông Nông đánh xuống và từ phía đông bắc qua Thạch An, Quảng Hòa đánh lên nhằm hợp điểm ở thị xã Cao Bằng. Sáng ngày 17.2, xe tăng Trung Quốc tràn ngập thị trấn Đông Khê. Những người dân miền biên viễn chả ai kịp gói ghém đồ đạc, mạnh ai nấy chạy, tìm đường sống bằng cách chạy vào rừng núi, chui vào hang hốc. Nhưng chúng đâu có tha, lỡ có đoàn người chạy loạn xui xẻo gặp phải lính Trung Quốc, thì chúng cứ thế xả súng thẳng vào đám đông, không cần biết đó là dân, hay là bộ đội. 
Sau khi quân Trung Quốc rút hết qua bên kia biên giới, người dân trở về, thì thấy chả còn cái gì nguyên vẹn. Bệnh viện, trường học, nhà cửa sụp đổ, xác người vương vãi, cháy đen, mùi tử khí bốc lên khắp nơi. Nhiều gia đình ly tán, người mất người còn.
Lịch sử cũng đã ghi nhận tinh thần chiến đấu anh dũng của quân và dân Cao Bằng trước sự hung hãn của kẻ địch. Theo một số tư liệu lịch sử,  cả 2 cánh quân ngay từ lúc tràn qua biên giới đã bị bộ đội địa phương và dân quân Cao Bằng tổ chức đánh chặn; cánh quân Tây Bắc qua ngả Thông Nông, dựa vào sức đột phá của xe tăng bị chặn đứng tại Hòa An. Cánh quân đông bắc cũng bị đánh quyết liệt ở Thạch An và Quy Thuận, bị chặn đứng trên đường số 4. Mũi đánh vào Trà Lĩnh, Phục Hòa gồm 2 sư đoàn nhằm chiếm đèo Mã Phục, Khâu Chia cũng bị lực lượng vũ trang địa phương phản kích xé tan đội hình, bỏ chạy về bên kia biên giới.
Khi các đơn vị đứng chân ở biên giới phía Bắc hoàn thành nhiệm vụ chặn đứng quân Trung Quốc, không cho chúng tiến sâu vào lãnh thổ Việt Nam, thì các quân đoàn chủ lực của ta bắt đầu tiến lên phía Bắc tham chiến. Phía Trung Quốc đã nhanh chóng nhận rõ tình hình, phải nhanh chóng rút lui. 
Nhiều người dân còn truyền tai nhau về tấm gương ông Nông Kim Việt ở xã Danh Sĩ, ngay ngày đầu tiên đã vác súng ra đồi chè phía sau bản phục kích địch. Rồi liên tiếp những hôm sau đó, mỗi ngày một địa điểm, lúc thì ông đi một mình, lúc thì cùng với những thanh niên trong bản, lính Trung Quốc không biết đâu mà lần.Tính ra, suốt 1 tháng cho đến lúc chúng rút về nước, ông Việt đã chiến đấu hơn 10 trận, bắn hạ 50 tên lính Trung Quốc, trở thành một huyền thoại sống ở Cao Bằng.
Đoàn được đưa đi thăm hang Pác Bó (xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng), nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh chọn làm căn cứ địa để lãnh đạo cách mạng sau hơn 30 năm bôn ba ở nước ngoài. Nếu như ngày xưa, Bác phải đi ngựa để vào hang thì nay, chúng tôi được đi xe ô tô nhưng cũng dằn xóc lắm vì đường xấu, phải lội qua nhiều ngầm, nhiều suối đầy đá cuội. Vì lý do an ninh chúng tôi không được vào hang, phải đứng nhìn từ xa. Anh Hưng, Phó Văn phòng UBND tỉnh đưa đoàn đi, thuyết minh: đây là Suối Lê Nin, kia là núi Các Mác; đây là vườn trúc Bác đã trồng, nọ là chiếc bàn đá Bác ngồi làm việc... Hang Pác Bó sau này được đầu tư xây dựng thành Khu di tích lịch sử cấp Quốc gia.
Cao Bằng còn có nhiều danh lam thắng cảnh như Thác Bản Giốc được xem như một trong những tặng vật vô giá của thiên nhiên, là một thác nước cao, hùng vĩ và đẹp bậc nhất của Việt Nam. Hay động Ngườm Ngao đã được xếp vào danh sách những hang động đẹp nhất nước bởi hệ thống nhũ đá và măng đá, tạo nên những khung cảnh thật sinh động, kì thú khiến con người phải thán phục, kinh ngạc. Đáng tiếc, thời đó đường xá đi lại khó khăn nên Đoàn chưa đến được.
Sau này tôi có nhiều chuyến công tác hay tham quan du lịch ở phía Bắc nhưng chưa có dịp lên lại Cao Bằng. Mặc dù với tôi, Cao Bằng vẫn luôn mời gọi, thúc giục. Tôi nợ miền biên viễn này một chuyến về thăm.
Ngọc Minh

Người viết : admin


Viết đánh giá



 Ẩn email của tôi
Bộ gõ : Off Telex VNI
Mã bảo vệ :  
 

Giới hạn tin theo ngày :   từ   đến

HỖ TRỢ TRỰC TUYẾN

HOTLINE :
(056) 3815348

Lãnh đạo tỉnh thăm các cơ quan báo chí nhân Kỷ niệm 92 năm Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam


Bình Định điện tử đưa tin về Lễ Kỷ niệm 92 năm Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam


Lễ Kỷ niệm 92 năm Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam


Video khác :