(056) 3815348

Kỷ niệm làm báo: Làm báo thời bao cấp

Thứ sáu, 30/06/2017, 10:17 GMT+7

Cuối năm 1982 tôi tốt nghiệp Đại học tổng hợp Huế ra trường, về công tác ở Báo Bình Định. Vui sướng vì được làm đúng nghề yêu thích nhưng lập tức cũng phải đối mặt với nhiều khó khăn, thiếu thốn của một nền kinh tế bao cấp, trì trệ kéo dài.

Ngày đầu đến cơ quan tôi được phân về Phòng Văn - Xã. Anh Trần Trung Kiên làm Trưởng phòng, chị Bùi Thị Chiến làm Phó Trưởng phòng. Anh chị đều là người từ chiến khu trở về. Sau anh Kiên được đề bạt Phó Tổng biên tập rồi lên Tổng biên tập; chị Chiến chuyển sang Hội VHNT tỉnh, rồi nghỉ hưu non, vào TP Hồ Chí Minh. 
Những người đầu tiên được gặp, tôi còn nhớ có anh Tạ Mỹ Khê, chị Trần Thị Xuân Hòa (sau là Tổng biên tập và Phó Tổng biên tập Báo Quảng Ngãi), chị Liễu, chị Đào, chị Phương, chị Côi... Một thời gian sau có các anh chị đi học trở về: anh Như Long, chị Hường, chị Phong; một số mới được tiếp nhận như anh Lê Xuân Tiến, Vũ Đăng Bút, Cát Hùng, Hữu Vinh, Tăng Quỳnh, Quang Khanh...
Tháng đầu tiên mới về cơ quan chỉ ngồi đọc báo và tài liệu. Đọc mãi chẳng thấy “sáng” ra điều gì. Đọc một bài báo về nghiệp vụ thấy có lời khuyên: Muốn biết bơi phải mạnh dạn lội ra sông, chứ chỉ ở trên bờ mà học lý thuyết thì cả đời cũng chẳng biết bơi. Vậy là xin đi viết.
Bài báo đầu tiên tôi viết về xã Tịnh Khê (huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi), nơi có khu chứng tích Sơn Mỹ được cả thế giới biết đến qua vụ lính Mỹ thảm sát hàng trăm người dân vô tội. Tôi và anh Trần Trung Kiên đi xe đò ra Quảng Ngãi. Xuống xe, anh em lai nhau đi xuống xã bằng xe đạp. Đường cát lún bánh xe, đạp một lúc là nhừ đôi chân. 
 
 
Tác giả trong một chuyến đi công tác ở đảo Lý Sơn (tỉnh Quảng Ngãi), năm 1985.
 
Rồi cũng đến xã. Xã mới phục hồi sau chiến tranh, còn nghèo lắm. Ở nhà ông Bí thư xã, ăn cơm thấy độn toàn khoai lang. Buổi sáng thấy ông thức dậy đi gánh nước tưới khoai. Hai bình nước to đổ xuống luống khoai, rót đi chẳng thấm vào đâu.
Ở lại một ngày một đêm. Hỏi han, ghi chép cẩn thận rồi viết. Đánh vật mãi cũng xong bài viết. Không biết qua mấy khâu biên tập, nhưng khi nhận lại bản thảo thấy bút phê của Tổng biên tập: “Dây cà ra dây muống”. Nghĩa là bài bị đổ phải viết lại.
Rồi bài cũng được đăng. Mừng lắm, đọc đi đọc lại không biết chán. Lại xung phong đi viết. Đi huyện xa thường ở lại 2-3 ngày mới về. Không như phóng viên trẻ bây giờ đến làm việc xong là vù về ngay. Vừa làm vừa học. Viết mãi thành quen, viết như... máy. Thấy gì cũng viết được. Ở nhà cũng viết được. 
Ở tập thể một mình nên tôi thường đi công tác. Thường thì mươi, mười lăm ngày mỗi tháng. Về địa phương công tác thường ở các văn phòng huyện ủy, ăn cơm ở nhà ăn tập thể cơ quan. Có lúc phải cắt tem phiếu để lại. Đi bằng xe đò, mang theo xe đạp (đặt lên trần xe ô tô) để tiện đi lại. Nhà báo được ưu tiên nhưng không phải lúc nào cũng mua được vé. Hồi ấy có loại ô tô khách chạy bằng... than. Lò than gắn ở đuôi xe tỏa hơi nóng như thiêu đốt. Nghe nói người có “cải lùi” này được tuyên dương dữ lắm. Được cái lúc đó đi công tác, ở nhà khách không phải mất tiền, kể cả Nhà khách của Trung ương Đảng.
Làm việc có lương nhưng cuộc sống vẫn chưa cải thiện bao nhiêu so với thời học đại học ở Huế. Lương mới ra trường có 51 đồng (tập sự đại học). Nhận lương xong nộp nhà ăn tập thể là gần hết. Ăn tập thể ở nhà ăn liên cơ (số 3 Trần Phú). Vẫn là “canh đại dương”, mấy con cá vụn kho mặn. Chỉ hơn là không phải ăn cơm độn như thời sinh viên. 
 
 
Tác giả (bên trái) và nhà báo Trần Trung Kiên trong chuyến công tác
đến xã Tịnh Khê (huyện Sơn Tịnh - Quảng Ngãi), năm 1983.
 
Nhưng xem ra không chỉ có mỗi mình khổ. Cùng ăn ở nhà ăn liên cơ còn có anh Kiên, Phó Tổng biên tập; có cả ông Đỗ Quang Thắng, Bí thư Tỉnh ủy (có cần vụ mang cơm về), ông Nguyễn Văn Bút, Phó chủ tịch Thường trực UBND tỉnh. Nỗi khổ dường như chia đều nên tất cả đều thấy bình thường. 
Lương tăng dần lên: 60 đồng, 66 đồng (sau phiên ra 290 đồng), 310 đồng, 333 đồng... Nhưng không theo kịp tình hình trượt giá. Hàng hóa thiếu thốn phân phối theo tem phiếu. Mức lương tôi thấp, mỗi tháng chỉ được phát tem 13 kg gạo, 0,5 kg thịt. Thịt thì nấu một bữa là xong, còn gạo thì vừa hẩm, vừa sạn. Ngày nào cũng phải đãi sạn; một lon gạo một vốc sạn. Nghe nói mậu dịch viên trộn sạn vào cho nặng cân (?)
Các loại hàng hóa tiêu dùng khác cũng phải mua phân phối; nhiều loại phân không đủ thì chia nhau; người được lốp xe, người được áo lót. Mỗi lần mua là phải xếp hàng rồng rắn. Có quầy ưu tiên cho thương, bệnh binh. Có mấy anh nhà báo cũng xen vào, lấy thẻ nhà báo đòi được...ưu tiên. Không đúng đối tượng, nhưng cũng có khi cô mậu dịch viên nể nang giải quyết luôn. Tôi thì chưa thử lần nào. 
Nhờ quen biết, cơ quan được xí nghiệp đông lạnh Quy Nhơn thỉnh thoảng bán cho đầu mực, đầu cá. Mỗi lần mua về là cả cơ quan nhao nháo phân chia. Của người ta bỏ nhưng với mình thì quý lắm. 
Tôi có chiếc Honda Dame 50 mang từ nhà xuống; lúc đó cơ quan chỉ có 2 người có xe máy là tôi và anh Đẩu. Có xe nhưng lại thiếu xăng; mỗi tháng tôi được phân phối 5 lít xăng. Phải đi xếp hàng từ 4-5 giờ sáng mới mua được. Hết xăng tiêu chuẩn thì phải mua xăng...lậu. Người bán xăng chỉ để một chai không bên đường làm ám hiệu. Có người đến mua mới vào nhà mang ra bán. Cẩn thận vậy mà Quản lý thị trường vẫn rình bắt được. Có lúc mất cả vốn lẫn lãi.
Cơ quan có một chiếc xe Jeep tận dụng sau giải phóng. Đi một thời gian, tấm bạt phủ bị rách phải đóng thùng tôn, trông như xe chở...lợn. Xe không có quạt, nóng như thiêu, như đốt. Tổng biên tập Hoài Nam bất mãn nói: “Đi xe vậy xấu mặt tỉnh chứ xấu gì tôi”. Cũng không sao, phóng viên như tôi mấy khi được ngồi lên xe ấy.
Trụ sở báo Bình Định đầu tiên ở 114 Tăng Bạt Hổ. Nhà hai tầng. Tầng trên là phòng của Tổng biên tập, Tòa soạn, các phòng phóng viên, hội trường. Tầng dưới là Phòng Bạn đọc, Phòng Hành chính, Nhà in, Nhà xe, Kho; có một phòng nhỏ của anh Như Long. Tường rào cao, bằng sắt nhọn. Nghe nói đã có người trèo lên hái cau (trước cơ quan có mấy cây cau) té xuống bị hàng rào đâm chết(?) 
Thực hiện chủ trương làm kinh tế Đảng, Tỉnh ủy quyết định tách Nhà in khỏi Báo, trực thuộc Ban Tài chính Quản trị Tỉnh ủy. Báo Bình Định buộc phải chuyển về 173 Phan Bội Châu, ở trong một ngôi nhà cũ, trưng thu sau ngày giải phóng. Nhà cũ kỹ không thích hợp để làm công sở. Tầng trệt để xe, có một gác lỡ làm Phòng Hành chính. Tầng hai là phòng Ban biên tập, Tòa soạn, Ban Bạn đọc, hội trường. Tầng ba là các phòng phóng viên. 
Lúc tôi mới về công tác, báo xuất bản 3 kỳ/tuần vào thứ ba, thứ năm và thứ bảy (mỗi kỳ 8 trang, khổ 31cm x 43cm). Đầu năm 1984, Báo mở rộng khổ thêm một chút (tăng lên 36cm x 50cm). Kỷ niệm 10 năm ngày xuất bản (1.1.1976 đến 1.1.1986), Báo nâng khổ lên 42cm x 56cm, nhưng lại rút bớt xuống 2 kỳ/tuần, phát hành vào thứ ba và thứ sáu hàng tuần. Lúc đó phóng viên nào cũng chỉ được trang bị cây bút, tờ giấy. Tôi phải dành dụm 4-5 năm mới mua được chiếc máy ảnh Canon QL, sản xuất từ những năm 60. Máy cũ nhưng oách lắm, lúc nào cũng kè kè bên người.
 
 
Tác giả (ngoài cùng bên trái) tác nghiệp trên công trình thủy lợi
Hội Sơn (huyện Phù Cát - Bình Định), năm 1984.
 
Giữa năm 1989, tỉnh Nghĩa Bình tách thành 2 tỉnh Quảng Ngãi và Bình Định. Tòa soạn Báo cũng được chia đôi. Số cán bộ, phóng viên, biên tập viên ở Quảng Ngãi (Mỹ Khê, Xuân Hòa, Mậu Trí… ) trở về làm Báo Quảng Ngãi. Báo Nghĩa Bình ra số cuối cùng vào ngày 27.6.1989 (số 1559). 
Ngày 1.7.1989, Báo Bình Định tái lập, ra số đầu tiên. Tất cả vẫn như cũ, chỉ có măng-sét là thay đổi, từ “Nghĩa Bình” sang “Bình Định”. Nhưng bắt đầu từ số 27 trở đi Báo đã có sự đổi mới. Báo chuyển từ 4 trang khổ lớn sang 8 trang khổ nhỏ, in 2 màu, thay đổi hình thức măng-sét. Báo in ti-pô, giấy hẩm nên lèm nhèm khó đọc. Đến số báo 284, ra ngày 15.11.1991 mới được in ốp-sét. Chữ nghĩa, hình ảnh rõ ràng hẳn lên. 
Tháng 2.1992, có thêm một ấn phẩm mới là “Bình Định Nguyệt san”. Lúc đầu chỉ có 20 trang in khổ nhỏ, tất cả đều in 2 màu, sau tăng lên 40 trang, in tách màu một số trang. Đây là ấn phẩm mà Tòa soạn tự hạch toán, không có sự tài trợ của ngân sách Nhà nước.

 

Mặc dù điều kiện làm việc rất khó khăn, phương tiện thiếu thốn nhưng hầu hết những người làm báo thời đó đều cố gắng khắc phục, hoàn thành tốt nhiệm vụ. Gian khổ, thiếu thốn, nhưng hầu như rất ít phóng viên nghĩ đến việc chuyển nghề. Niềm vui và cũng là động lực mạnh mẽ nhất để các nhà báo tiếp tục “sống chết” với nghề chính là sự yêu mến, đón nhận của bạn đọc gần xa.                            
Ngọc Minh

Người viết : Theo Tạp chí Người làm báo Bình Định


Viết đánh giá



 Ẩn email của tôi
Bộ gõ : Off Telex VNI
Mã bảo vệ :  
 

Giới hạn tin theo ngày :   từ   đến

HỖ TRỢ TRỰC TUYẾN

HOTLINE :
(056) 3815348

Lãnh đạo tỉnh thăm các cơ quan báo chí nhân Kỷ niệm 92 năm Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam


Bình Định điện tử đưa tin về Lễ Kỷ niệm 92 năm Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam


Lễ Kỷ niệm 92 năm Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam


Video khác :